墳墓
PHẦN MỘ
(Mổ mả)
Contents
I. TỔ MỘ
Mộ của tổ phụ hoặc táng lâu năm hoặc mới an táng, nay đến xem tất phải có nguyên nhân. Phải hỏi mới có thể quyết đoán được:
– có khi vì cực khổ quá lâu, nghi tổ mộ bất lợi.
-có khi thi chẳng đậu, hoặc con đi thi, xem phong thuỷ của mộ có phá khoa giáp không. Nếu vì mình thì tự đến xem nếu vì con cháu thì bảo chúng đến xem.
-có khi vì đường làm quan trắc trở, nhiều năm không được lên chức, nghi vì phong thuỷ.
-có người không có con cháu nghi vì phong thuỷ.
-có người trong lục thân và cả chính mình hay tật bệnh, hoặc gặp quan phi đạo tặc
-có người vì phong thuỷ mà thương tổn, xem có cách nào tu bổ không.
-có người muốn hỏi cho biết địa mạch của tổ mộ có tổn thương hay không.
Mọi trường hợp đều lấy Phụ Mẫu làm Dụng thần, gặp:
-Quẻ Lục xung hoàn toàn không có địa mạch;
-Quẻ biến hoá Tuyệt thế như đảo huyền (treo ngược).
-Quẻ Phục ngâm muốn dời chẳng được;
-Quẻ Phản ngâm không muốn cũng phải dời;
– Quẻ biến Lục xung, long đã chuyển, có nguy cơ cho con cháu;
-Quẻ xung biến hợp trong tương lai con cháu hưng vượng;
-Quẻ Lục xung biến Lục xung toàn không có mạch khí;
-Quẻ biến hoá khắc như đảo huyền mà không dời được;
-Quẻ xung biến hợp thì trước chẳng có địa mạch, nhưng từ nay địa vận sẽ vượng cho con cháu.
1.父母旺相祖墳安然, 基絶休後裔落Phụ Mẫu vượng tướng tổ phần an nhiên, Mộ Tuyệt hưu tù hậu duệ linh lạc. (Phụ Mẫu vượng tướng mộ an ổn, Phụ gặp Mộ Tuyệt, hưu tù con cháu phiêu linh)
-Đất táng chọn Phụ Mẫu làm Dụng thần. Phụ vượng tướng, được Nhật Nguyệt, động hào sinh phò, hoặc động hoá sinh, hoá Nhật Nguyệt, hoá trợ, hoá Tần thần là tốt. Con cháu hưng vượng, người chết đã an mà người sống vui vẻ. Gặp Trường sinh, Đế Vượng là “hưng thịnh lâu dài”,“hưng vượng nhiều đời”,
-Phụ bị Mộ Tuyệt Không Phá, cùng động hoá Phá, hoá tán, hoá Thoái thần, hoá Tuyệt Mộ, hoá Không đều tượng hung, người chết chẳng an mà người sống điêu linh.
2. 世爻變鬼占者不祥, 鬼化六親各屬不吉Thế hào biến Quỷ chiêm giả bất tường, Quỷ hoá Lục thân các thuộc bất cát. (Thế hào biến Quỷ, người xem chẳng may, Quỷ hoá Lục thân, người thân không yên)
-Thế hào biến Quỷ hào, tuỳ Quỷ nhập Mộ, thường người xem không được tốt.
-Thê, Tử, Phụ, Huynh động hoá Quỷ hoặc Quỷ hoá Thê, Tử, Phụ, Huynh thì tuỳ theo ai biến Quỷ, hoặc Quỷ biến mà đoán.
Lại có Tí hoá Quỷ thì tuổi Tí xấu, Ngọ hoá Quỷ thì tuổi Ngọ xấu.…Ngoài ra cứ phỏng theo như thế
Dã Hạc nói; Ngày xưa, cho Phụ hào không nên vượng động, vì “Phụ vượng động thì Tử bất an” là lầm lẫn. Xem mồ mả cũ lấy Phụ làm Dụng thần, Phụ vượng động hoặc hoá cát thì tổ mộ an ổn. Thế mà bảo ngược lại là không nên vượng động vì vượng động thì khác Tử sao? Chỉ có Tử động hoá Quỷ Phụ động hoá Tử là bất lợi cho con cháu mà thôi.
II. THƯƠNG TỔN Ở ĐÂU
Dã Hạc nói: Việc này nên xem riêng, không thể đoán kèm với quẻ khác. Chuyên xem hào xung khắc với Phụ Mẫu, tức Kỵ thần. Nếu sáu hào an tĩnh, Phụ Mẫu hữu khí thì con cháu về sau tự yên, khỏi phải tu bổ mộ phần.
-Khắc thần lâm Hoả hay Chu Tước hoạ tất khởi ở lò nung,
lâm Thổ kèm Huyền Vũ thì do trộm đất để chôn mà gây hại,
gặp Kim với Bạch Hổ thì gặp việc kinh hãi,
gặp Mộc thì Long bị ngăn trở chẳng vẫy vùng được;
Đằng Xà ở Khắc thần thì rắn hoặc kiến đến làm tổ;
Thổ Quỷ với Câu Trần là do đào bới mà làm động thổ;
Huyền Vũ lâm Thuỷ thì bị nước xâm lấn.
Khắc thần lâm Hoả thì chôn gần nơi có khai đất làm đồ gôm, hoặc vì chuyện đèn lửa;
Phụ Mẫu bị Thổ kèm Huyền Vũ khắc, tất bị chôn trộm;
lâm Câu Trân, Đằng Xà vì xây nhà, dựng tường làm tổn thương;
Kim với Bạch Hổ thì có địa chấn làm dao động;
Mộc với Bạch Hổ là có cây cối, dưới huyệt có rễ cây làm hại;
Hỏa kèm Đằng Xà động là trong huyệt có kiến, rắn gây hại;
Huyền Vũ ở hào Thuỷ khắc Phụ là nước đen xâm nhập Mộ.
Phụ Mẫu bị xung thì hại địa phong thuỷ.
Kim xung khắc thì bởi đá trái;
Thuỷ xung khắc thì suối bắn vọt,
Mộc thì cây,
Hoả là tổ kiến ổ rắn.
Phụ Mẫu bị Nhật Nguyệt cùng động hào khắc; quẻ động hoá xung,
Như tại quẻ Cấn, Khôn được Hợi Mão Mùi hợp thành Mộc cục khắc Phụ thì bị địa phong quanh quan tài,
Như ở cung Ly gặp quẻ có Thân Tí Thìn hợp thành Thuỷ cục khắc Phụ thì huyệt có nước bắn thấm vào quan tài làm quan tài lệch.
Tại cung Chấn Tốn có Kim cục xung khắc thì bị gò đồi, đá lớn.
Tại cung Càn Đoài có Hoả cục xung khắc Phụ Mẫu thì bị lửa nung, sấm sét làm hại.
Thủy động thì đất bị nước xâm,
Mộc động thì bị rễ cây,
Hoả động thì có tổ kiến rắn,
Thổ động thì đất bị động nên gấp tu bổ.
1.爻無亂動須觀五行之有無, 卦若安逸又看地支之缺陷Hào vô loạn động tu quan ngũ hành chi hữu vô, Quái nhược an dật hựu khán địa chi chi khuyết hãm. (Hào không loạn động nên xem ngũ hành có hay không, Quẻ nếu an tĩnh, lại xem địa chi nào thiếu)
-Sáu hào an tĩnh không xung khắc hào Phụ Mẫu, lại xem ngũ hành nào thiếu.
Như thiếu Thổ thì xây tường;
thiếu Kim thì dựng bia;
thiếu Hoả thì làm bếp hoặc xây nhà coi phần mộ;
thiếu Thuỷ thì làm hồ ao;
thiếu Mộc thì trồng thêm cây.
Đó là nói đến thiếu ngũ hành trong quẻ. Nếu hiện trong quẻ mà bị Không Phá Mộ Tuyệt, vô khí thì cũng vô ích.
Vd: Ngày Kỷ Tị tháng Mùi xem mộ, được quẻ Tuỵ biến Cách:

Quẻ này xem về mộ tổ- Ta hỏi: Vì việc gì mà bói?
Đáp: Thường nghe thầy địa nói đất táng này phát thi cử, anh em chúng tôi bốn người đều theo đuổi việc học, nhưng chẳng thấy phát gì cả. Chẳng hiểu vì sao?
Đáp: Gần đó có đại thụ.
Người xem nói: Lúc mới chôn thì bé, bây giờ cành lá sum sê.
Nói: Rễ cây gây hại cho quan tài.
Hỏi; Làm sao trị được.
Đáp: Nên đào cạnh huyệt một cái hố, để xem có rễ cây không.Rồi đào một hố lớn từ xa đến ngang mộ, để lấy dao sắc chặt rễ cây đi, cho mộ được an ổn.
Lại cho người xem biết: Năm Hợi, khoa thi sau sẽ khởi động Quan tinh tất đậu cao.
Quả sau khi sửa sang, đến năm Hợi người này thi đậu.
Nếu vì Hoả khí làm hại thi nên lập đàn cúng hoả thần,
trộm đất để táng làm Thổ động thì lập đàn cúng an Thổ thần.
Nếu thương tổn do kinh sợ thì lập đàn cúng an mộ phần.
Có rễ cây hoặc đá làm thương tổ thì đào hố sâu chừng ba thước ta, để gõ đá, chặt cây.
Rắn kiến làm tổ thì trồng nhiều cây có chất đắng khiến kiến rắn bỏ đi, đừng nghe lời người ta dùng lửa đốt chúng. Ta từng chứng kiến hai nhà dùng lửa đốt kiến rắn ở mộ, về sau con cháu suy bại.
Nếu huyệt bị nước xâm, mà nước có nguồn, thì khơi nước cho cạn nguồn, nếu không được thì dời mộ đi nơi khác.
Nếu bị địa phong thổi lệch quan tài, thì đào hố sâu chừng hai ba thước ta phía sau hoặc trước mộ để thăm dò, nếu quan bị lệch thì sửa lại cho đúng hướng.
III. TÌM ĐẤT CHÔN
Dã Hạc nói: Bói về mồ mả, các phép xưa đều sai lầm. Xem cũng giống như Gia Trạch mà thôi. Cứ xem sách sẽ rõ. Ta có kinh nghiệm nhân lúc yết tảo mồ mã, được nhờ xem trên mộ, hoặc bói cho người tìm đất chôn, qua nhiều năm mà rõ bí quyết.
1.世爻旺相祖父魂安, 福德興隆兒孫绵祀Thế hào vượng tướng tổ phụ hồn an, Phúc đức hưng long nhi tôn miên tự. (Thế hào vượng tướng hồn tổ phụ an ổn, Tử Tôn vượng động con cháu thờ cúng mãi mãi)
-Xưa lấy nội quái làm huyệt, rồi Đằng Xà làm huyệt, nhưng chẳng nghiệm Chỉ có Thế hào làm huyệt là nghiệm đúng.
-Thế hào cần vượng tướng, hoặc lâm Nhật Nguyệt, hoặc Nhật Nguyệt, động hào sinh phò là tốt.
– Tử Tôn là con cháu lo cúng tế về sau, hoặc ở hào Thế, nếu ở hào khác thì phải vượng tướng.
2. 三合六合衆氣藏風, 世冲六冲飛沙走石 Tam hợp, Lục hợp tụ khí tàng phong Thế xung, Lục xung phi sa tẩu thạch. (Tam hợp và Lục hợp khí tụ, phong tàng Thế xung, Lục xung cát bay đá chạy).
-Quẻ gặp Lục hợp, hoặc Thế với Tử tạo thành Tam hợp, là huyệt tốt, khí tụ tàng phong, đời đời hưng vượng.
-Quẻ gặp Lục xung hoặc Lục xung biến Lục Xung, Thế ứng tương xung, thì không có mạch khí, vì xung là tán.
3. 六冲變合地已去而復來六合變冲形已成而復失 Lục xung biến hợp địa dĩ khứ nhi phục lai, Lục hợp biến xung hình dĩ thành nhi phục thất. (Lục xung biến hợp thì đất đã mất mà lại đến Lục hợp biến xung thì hình đă thành rồi lại mất).
-Lục xung biến Lục hợp thể đoán bằng hai cách;
Hoặc trước đã tìm được chỗ đất này không được mà sau lại được.
Hoặc vận đất ở đó đã suy, chân long đã đi mà nay trở lại.
Được như vậy mà Thế và Tử Tôn vượng tướng thì gấp mà dùng. Ta có kinh nghiệm xem nhiều quẻ như thế thấy về sau được hưởng đời đời.
-Lục hợp biến Lục xung là đất đã được mà sau lại mất, hoặc địa vận sắp suy, long sắp đi, không nên dùng.
4. 世旺而化絶破吉處藏凶, 世衰而化生合凶中有吉 Thế vượng nhi hoá Tuyệt Phá cát xứ tàng hung, Thế suy nhi hoá sinh hợp hung trung hữu cát . (Thế vượng mà hoá Tuyệt, Phá là trong tốt ngầm chứa xấu Thế suy mà hoá sinh hợp là trong xấu có tốt).
-Thế hào tuy vượng nhưng không nên hoá Phá, cùng hoá Mộ, Tuyệt, hoá hồi đầu khắc, chủ trước được đất tốt mà sau bị phá hư. Nếu không thì tương lai khi chôn không được ngày tốt. Sau khi chôn bị người làm hại gốc rễ khiến tốt biến thành xấu.
-Thế hào suy nhược mà động biến hồi đầu sinh, hoá Trường Sinh, hoá Đế Vượng, hoá Nhật Nguyệt, hoá Tấn thần thì trước xấu sau tốt. Trước mắt là đất phát tài, phát đinh mà sau biến thành đất phát phú quí.
Vd: Ngày Mậu Ngọ tháng Dần xem đất chôn được quẻ Di biến Vô Vọng:

Đoán rằng: Thế hào Tuất thổ vào mùa xuân là hưu tù, hoá ra Ngọ hoả hồi đầu sinh Thế; Nhật Nguyệt cùng Thế hào hợp thành tam cục. Thanh Long hí thuỷ hoá Trường Sinh, nguồn nước ở cực xa. Chỉ vì Thân bị Nguyệt Phá, Tuất thổ khắc Tí thuỷ, mà Tí bị Nhật thần xung tán nên xuân hạ thì có nước mà thu đông thì khô.
Người xem hỏi; Thế thì làm sao?
Đáp: Chẳng hại không thể cầu toàn được. Trong quẻ Nhật Nguyệt cùng Tử Tôn làm thành tam hợp, người chết an mà người sống vui, con cháu thịnh vượng, so lại không phát.
Quả sau khi táng, đến năm Thìn táng lại, năm Dậu có cháu đậu á nguyên, năm Tí một cháu nữa đậu thi hương.
5. 世化進抻千秋綿遠, 福德化進百代榮昌Thế hoá Tấn thần thiên thu miên viễn, Phúc Đức hoá Tấn bách đại vinh xương. (Thế hoá Tấn thần, ngàn năm dài lâu, Phúc hoá Tấn thần trăm đời thịnh vượng).
-Thế hào nên vượng tướng, hoá Tấn thần, hoá Nhật Nguyệt, hoá hồi đầu sinh, hoá hợp, hoá Trường Sinh, Đế Vượng thì “long an thuỷ tụ, địa mạch nguyên trường” (Rồng yên nước tụ, nguồn địa mạch dài lâu).
-Tử Tôn vượng tướng hoá Tấn thần hoặc hoá hợp, hoá sinh, hoá Nhật Nguyệt, hoá vượng tướng thì con cháu vinh qúy.
-Thế hoá Thoái thần cuối cùng dời đổi – Tử hoá Thoái thần đời đời chẳng làm nên.
6.日月宜生福德, 動爻不可身 Nhật Nguyệt nghi sinh Phúc Đức, Động hào bất khả thương Thân. (Nhật Nguyệt nên sinh Phúc Đức. Động hào không thể hại Thân)
-Thế và Tử Tôn nên được Nhật Nguyệt, động hào sinh phò, không nên bị Nhật Nguyệt xung khắc.
7. 旺世臨虎官上加官 旺福逢龍寅葬卯發Vượng Thế lâm Hổ,quan thượng gia Quan Vượng Phúc phùng Long, Dần táng Mão phát. (Thế vượng lâm Bạch Hổ, trên quan tài có quan tài nữa, Phúc vượng gặp Thanh Long, năm Dần táng năm Mão phát)
-Thế lâm Bạch Hổ,hoặc “tuỳ Quỷ nhập Mộ” đều chủ tất đã có thây chôn, nếu Thê hào vượng tướng gặp sinh phò thì trên quan tài có một quan tài nữa. Ta từng thấy hai người cùng táng một nơi, về sau đại phát. Nếu hưu tù thì chẳng được.
-Tử Tôn vượng tướng được Nhật Nguyệt sinh phò gặp Thanh Long là cát địa, chôn năm Dần thì năm Mão phát. Đại ý là phát rất nhanh.
-Như ngày Mậu Tí tháng Thân xem đất chôn, được quẻ Bác:

Đoán rằng: Thế trì Tử Tôn lại là Nhật thần, lại được Nguyệt kiến sinh,tức được “Thanh Long hí thuý”,“Thế xuất ở Tí vượng tướng” nên gần sông lớn. Nếu không cũng là “trường lưu thuỷ” (dòng nước dài). Lại Bạch Hổ ở Mão, mà Măo với Tí tương hình, ứng là núi đối diện (hướng sơn) thuộc Hoả bị Tí thuỷ khắc nên núi đối diện chẳng cao. Án sơn là Tuất, Tuất khắc Tí thuỷ nên án sơn hơi cao.
Người xem nói: Hình thế hoàn toàn đúng.
Ta bảo: Nên táng gấp, mùa đông sẽ phát.
Quả tháng tám thì táng, đến tháng mười thứ tử lập được kỳ công thăng chức. Qua tháng tư sang năm làm đến nguyên nhung. Con trưởng vốn chẳng ra gì mà về sau cũng có chức phận.
Lại vào ngày Dần tháng Mão xem tìm đất chôn, được quẻ Cách biến Ký Tế

Hợi thuỷ là Dụng thần động hoá Thân kim Phụ Mẫu hồi đầu sinh. Thế tuy hưu tù nhưng nhờ được sinh mà vượng. Chỉ hiềm ngày Dần xung khử Thân kim, tất đến tháng bảy mới tìm được đất. Phụ lâm Thân Dậu tất đất ở tây nam, vốn là “tài tinh” Đến năm Thân, long hưng vượng vận phát chẳng nhỏ. Thế suy mà hoá sinh là trong hung có cát.
Quả tháng bảy được đất ở Tây Nam. Năm Mão an táng, năm Dậu trưởng tử thi đậu, ba con đều trúng võ khoa.
8.散絶基空世與子孫勿見 化剋化鬼弟兄妻子休逢 Tán Tuyệt Mộ Không, Thế dữ Tử Tôn vật kiến Hoá khắc, hoá Quỷ, Đệ huynh Thê tử hưu phùng. (Thế và tử Tôn không nên gặp Tán, Tuyệt, Mộ, Không Huynh Đệ và Thê Tử đừng hóa khắc, hóa Quỷ)
-Thế hào và Tử Tôn không nên bị hưu tù, Mộ Tuyệt Không Phá, cùng hoá Phá, hoá Tán, hoá Mộ, hoá Tuyệt, hoá Quỷ, hoá Thoái thần, hoá hồi đầu khắc. Nếu bị một trong những trường hợp trên thì chẳng tốt.
-Lục thân cũng không nên hoá Quỷ, như Phụ hoá Tử, Tử hoá Phụ, Quỷ hoá Tử, Tử hoá Quỷ; Huynh hoá Quỷ, Quỷ hoá Huynh; Huynh hoá Tài, Tài hoá Huynh; Tài hoá Quỷ, Quỷ hoá Tài đều bất lợi cho anh em vợ con. Nếu cha mẹ còn sống ở nhà thì không nên có Quỷ hoá Phụ, Phụ hoá Tài, Tài hoá Phụ…
9.應冲合處逢冲流移遵徙, 反吟卦變化剋洪泛陵弈 ứng xung, hợp xứ phùng xung, lưu di thiên tỉ , Phản ngâm, quái biến hoá khắc hồng phiếm lăng di. (Ứng xung, hợp xứ phùng xung, thay đổi di dời Phản ngâm, quẻ biến hoá khắc lắm phen trôi nổi )
-Chọn đất không chỉ gặp quẻ Lục xung là xấu mà ứng xung Thế cũng chẳng tốt. Thường Thế Ứng tương hợp, gặp quẻ Lục hợp, Thế Ứng và Tử tạo thành tam hợp là đất chôn tốt đẹp. Nếu quẻ Phục ngâm gặp năm tháng xung khai tất phải di đời. Quẻ Phản ngâm gặp năm tháng xung tất biến. Nội ngoại phản ngâm như Tốn biến Càn, Khôn biến Chấn chẳng hạn gọi là hoá Tuyệt, hoá khắc, gặp quẻ như thế này, nặng là bị hành quyết, nhẹ thì phải đổi dời.
Vd: Ngày Mậu Tí tháng Mão xem đất chôn được Tốn biến Thăng:

Đoán rằng: Thế là Huyệt. Thế lâm Nguyệt kiến được ngày Tí sinh là tốt, nhưng không nên ngoại quái Phản ngâm. Thế bị Dậu kim xung khác, Tử bị Hợi thuỷ xung khắc. Thật không nên chút nào.
Người xem nói: Tôi đã mua đất rồi.
Ta đáp: Chẳng táng thì có hại gì.
Lại bảo thầy địa nói tốt.
Sau bèn táng, nội trong 4 năm hai trai một gái chết liên tiếp nhau, còn bản thân bán thân bất toại, không oán mình mà ngược lại oán tổ phụ. Dời mộ lên mà không táng lại. Hơn hai năm thì chết. Sau khi chết cũng không được táng, ứng vào năm Dậu là năm thực xung.
10父化父兒孫夭折, 子化子子女成行 Phụ hoá Phụ, nhi tôn yểu chiết Tử hoá Tử, tử nữ thành hàng. (Phụ hoá Phụ cháu con chết yểu – Tử hoá Tử con trai gái đông đúc)
Trong quẻ không nên Phụ động, Phụ động hoá Phụ thì hung. Tử động hoá Tử mà không bị thương khắc, đời đời con cái đông đức.